Lỗi
  • JFolder::create: Could not create directory

Tin tức

Công chứng văn bản khai nhận di sản.

Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản. 

Đọc thêm...

Hợp đồng thuê nhà không công chứng: Coi chừng rắc rối

Luật quy định hợp đồng thuê nhà trên sáu tháng phải có công chứng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, dù người thuê muốn công chứng, người cho thuê vẫn nói “không”, dẫn tới những rắc rối nếu có tranh chấp sau này.

Đọc thêm...

Hợp đồng thuê nhà không công chứng: Coi chừng rắc rối

uật quy định hợp đồng thuê nhà trên sáu tháng phải có công chứng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, dù người thuê muốn công chứng, người cho thuê vẫn nói “không”, dẫn tới những rắc rối nếu có tranh chấp sau này.

Chị Nguyễn Thu Huyền, giám đốc một doanh nghiệp chuyên ngành quảng cáo, kể chị đã gặp nhiều khó khăn khi đi tìm nhà thuê để mở công ty. Khi chị đề nghị ký hợp đồng công chứng và yêu cầu bên cho thuê kê khai nộp thuế, xuất hóa đơn hằng tháng để chị tính vào chi phí hợp lý hoạt động của công ty thì người cho thuê không cho thuê nữa vì cho rằng... quá phiền phức lại tốn thêm tiền thuế.

Nhiều người cho thuê nhà đều mang tâm lý trên. Có người đã nói thẳng chỉ viết giấy tay với nhau thôi, giá thuê nhà là tiền họ thực nhận, còn muốn đóng “thuế má” gì, cộng thêm bao nhiêu khoản thì bên thuê tự đi mà đóng!


Né... công chứng


Sẽ xét xử theo hợp đồng thực tế

Thẩm phán Nguyễn Quốc Trung (tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM): Trong những vụ tranh chấp mà giữa các bên có cùng lúc hai hợp đồng cho thuê nhà với hai giá khác nhau, tôi sẽ căn cứ vào nội dung hợp đồng thực tế (hợp đồng tay) để xét xử, vì bản có công chứng thực chất chỉ là hợp đồng hình thức. Gặp những vụ việc mà các bên cố tình làm hợp đồng công chứng với giá thấp để lách thuế, tòa sẽ gửi văn bản kiến nghị cơ quan thuế truy thu, xử lý hành vi trốn thuế này.

Người trốn thuế ngoài việc bị truy thu còn phải chịu trách nhiệm về vi phạm. Nếu số tiền trốn thuế trên 100 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì sẽ bị xử lý hình sự theo điều 161 Bộ luật hình sự.



Chuyện người cho thuê nhà không muốn công chứng hợp đồng có nguyên nhân chủ yếu là sợ phải đóng thuế. Theo quy định hiện hành, người cho thuê nhà phải đóng tổng cộng ba loại thuế:

- Thuế môn bài: 1 triệu đồng/năm đối với cá nhân, nếu tiền cho thuê nhà trên 1,5 triệu đồng/tháng. Đối với tổ chức có đăng ký kinh doanh cho thuê nhà thì mức thuế từ 1-3 triệu đồng/năm cho cả hoạt động có đăng ký kinh doanh.

- Thuế giá trị gia tăng: 3,8% doanh thu cho thuê nhà.

- Thuế thu nhập cá nhân: tùy theo thu nhập cụ thể.

Để “lách” thuế còn có tình trạng: các bên ký kết cùng lúc hai hợp đồng. Một hợp đồng với giá thực, một hợp đồng ra công chứng với giá thấp hơn nhiều để giảm thuế phải đóng.

Có trường hợp nêu lý do ngại thủ tục, như chị Đ.T.H. có căn nhà cho thuê tại P.14, Q.Tân Bình: “Tôi cũng muốn kê khai, nộp thuế đầy đủ nhưng thủ tục phức tạp quá. Năm trước, tôi cho thuê nhà cũng công chứng, kê khai thuế đầy đủ. Sau khi đến phường để viết hồ sơ, tôi phải chờ gần một tháng mới nhận được thông báo thuế. Sau đó, cứ mỗi tháng lại phải đi nộp thuế, lấy hóa đơn xuất cho bên thuê phiền phức quá nên sau khi hết hợp đồng, tôi quyết định cho thuê miệng với nhau, giá rẻ hơn chút nhưng không phải nộp thuế”.

Hợp đồng vô hiệu

Theo nhiều luật sư, người thuê nhà nên yêu cầu hợp đồng công chứng vì nếu chủ nhà đơn phương hủy hợp đồng, đòi lại nhà trước thời hạn thì hầu hết bên thuê nhà phải chịu thiệt.

Một thẩm phán TAND TP.HCM cho biết nếu hợp đồng thuê nhà trên sáu tháng mà các bên không ký công chứng, tòa sẽ tuyên vô hiệu. Nguyên tắc xử lý vô hiệu là các bên trả cho nhau những gì đã nhận: bên cho thuê lấy lại nhà, bên thuê lấy lại tiền cọc. Các thỏa thuận về mất cọc, bồi thường tiền cọc sẽ không được xem xét.

Chính vì vậy, có nhiều doanh nghiệp vừa ký hợp đồng thuê nhà được vài tháng, bỏ tiền sửa chữa nhà, vận chuyển đồ đạc, tài sản đến nơi, chưa kịp hoạt động đã bị đòi lại nhà. Vậy mà bản án của tòa lại không buộc người cho thuê phải bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp do việc “lật kèo” này vì cho rằng hợp đồng vô hiệu.

Có một số trường hợp khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, tòa cũng xét đến yếu tố lỗi của hai bên trong việc giao kết hợp đồng để buộc các bên cùng phải chịu trách nhiệm về thiệt hại. Có vụ việc tòa đã tuyên buộc mỗi bên phải chịu một nửa thiệt hại do việc kết thúc hợp đồng cho thuê nhà nhưng quan điểm này vẫn còn tranh cãi, có khi bị cấp phúc thẩm hủy án.

CHI MAI


Làm theo pháp luật sao khó thế!

Có thuê nhà mới biết để tìm được căn nhà thích hợp khổ như thế nào. Ngoài những việc cần chú ý như giá cả, diện tích, vị trí còn phải tính toán thêm chuyện kẹt xe, nước ngập và “lô cốt”. Sau khi vất vả đi xem khoảng... 20 căn nhà mới lựa một căn tạm đáp ứng mọi nhu cầu, vợ chồng tôi đụng phải một vấn đề nan giải mà trước đây không để ý, đó là chuyện chủ nhà không chịu ký hợp đồng công chứng.

Bà chủ căn nhà đường L nói chỉ cần biết phần tiền bà nhận là 1.000 đô/tháng, thuế má gì bên thuê lo và ký hợp đồng chỉ hai bên với nhau là đủ, ra công chứng chi cho phiền phức. Vì quá thích vị trí căn nhà, chúng tôi cố gắng thuyết phục bà. Chồng tôi phải ngồi liệt kê các mức thuế thu nhập cá nhân mà phía bà dự kiến sẽ phải đóng để chứng minh số thuế tối đa khoảng 100 đô/tháng.

Tiếp theo, chúng tôi làm chuyện ngược đời là tăng giá thuê nhà lên 50 đô để chia sẻ thuế với bà. Cuối cùng bà chịu ra công chứng thì lại lòi thêm chuyện bà không phải là người đứng tên chủ quyền nhà. Người đứng tên là con bà chỉ chịu làm giấy ủy quyền tay cho bà. Cũng như không!

Căn nhà ở đường N được kêu giá 1.100 đô/tháng, cũng giá “tịnh”, không thuế. Chủ nhà chịu hợp đồng công chứng nhưng nói hợp đồng chỉ ghi tượng trưng 4-5 triệu đồng thôi. Ký thế này chẳng thà không ký. Mệt mỏi vì quá trình tìm nhà tôi đã bàn với ông xã hay là kệ, chấp nhận chuyện không công chứng, thế nhưng cũng không xong.

Bà chủ nhà nói không công chứng không được vì công an địa phương biết rất rõ bà chuyên cho thuê nhà. Công ty môi giới bất động sản giới thiệu nhà thì gợi ý “giải pháp”: ký thêm một hợp đồng nữa cho đủ giá trị, ghi là hợp đồng thuê... đồ đạc, thiết bị bên trong căn nhà. Khi thấy tôi ngần ngừ, người của công ty nói không sao đâu, chuyện ký hai hợp đồng như vậy là bình thường.

Bên cạnh vài chủ cho thuê nhà nêu những lý do ngại phiền, tin nhau là đủ..., nhiều chủ nhà nói thẳng với chúng tôi lý do không ký hợp đồng công chứng là để khỏi đóng thuế. Tôi rất thích bà chủ nhà ở đường T khi bà thành thật nói sẽ ký hợp đồng công chứng giá 10/18 triệu đồng, “mình có ăn cũng phải đóng góp cho Nhà nước một phần, phần còn lại, nói thật, cũng phải “chi chút đỉnh” để mọi việc được thuận lợi”. Tiếc là hẻm vào nhà của bà bị hàng quán chiếm nhiều quá, nếu không tôi đã tính trong bụng là sẽ chia sẻ với bà phần “chi chút đỉnh” để bà chịu công chứng hợp đồng với giá thật.

Giá của những căn nhà mà chúng tôi đã xem không hề “vừa phải”, nghĩa là nếu chủ nhà đóng thuế cũng không phải thiệt thòi gì, nghĩa vụ thuế như vậy thật ra đã được chủ nhà “chia” cho cả bên thuê nhà, vốn chẳng phải có trách nhiệm gì trong việc này.

Cuối cùng sau mấy tháng trời chúng tôi mới tìm được một chủ nhà chịu ký hợp đồng công chứng (chịu đóng thuế). Nói vậy cho vui chớ thật ra phần “chịu” là của chúng tôi, vì chúng tôi đã phải chấp nhận thuê nhà giá cao hơn người thuê trước tới cả trăm đô/tháng dù thời điểm chúng tôi ký hợp đồng giá nhà cho thuê đang giảm mạnh.

Thanh Châu (TP.HCM)



Nguồn: tuoitre.com.vn

Thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản theo quy định của Luật Công chứng

Việc phân chia di sản là một trong những vấn đề đang được nhiều người quan tâm khi có di chúc hoặc không có di chúc của người thân trong gia đình để lại. Xã hội phát triển kéo theo nhiều nhu cầu của người dân đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoàn thiện.

Đọc thêm...

Thủ tục công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản theo quy định của Luật Công chứng

Việc phân chia di sản là một trong những vấn đề đang được nhiều người quan tâm khi có di chúc hoặc không có di chúc của người thân trong gia đình để lại. Xã hội phát triển kéo theo nhiều nhu cầu của người dân đòi hỏi pháp luật ngày càng phải hoàn thiện. Luật công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã có các quy định về thủ tục công chứng Di chúc, công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản, công chứng Văn bản khai nhận di sản, công chứng Văn bản từ chối nhận di sản và Nhận lưu giữ di chúc.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng nhiều của những người đang muốn tìm hiểu về việc công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản quy định trong Luật công chứng, xin được giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Trước hết cần tìm hiểu về quy định phân chia di sản trong Bộ luật dân sự năm 2005 cho thấy: tại chương XXV quy định về Thanh toán và phân chia di sản trong đó có Phân chia di sản theo di chúc (Điều 684) và Phân chia di sản theo Pháp luật (Điều 685 ).

Đối với việc phân chia di sản theo di chúc thì: việc phân chia này được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc, nếu trong di chúc đó không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản phải chia đều cho từng người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Đối với việc phân chia di sản theo pháp luật thì: nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người đó còn sống khi sinh ra được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Để có căn cứ khi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản thì cần phải có Văn bản thoả thuận phân chia di sản đã được công chứng. Luật công chứng quy định thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch, trong đó tại khoản 1 Điều 49 có quy định về công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản như sau: những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản. Trong văn bản thoả thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần quyền hưởng di sản của mình cho người thừa kế khác.

Như vậy, công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản rất quan trọng đối với việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu. Văn bản thoả thuận phân chia di sản được công chứng là cơ sở để làm căn cứ cho việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

Thủ tục cần thiết đối với người yêu cầu công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản bao gồm các giấy tờ sau:

- Phiếu yêu cầu công chứng theo mẫu;

- Dự thảo Văn bản thoả thuận phân chia di sản;

- Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

- Bản sao giấy tờ liên quan đến việc công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản. ( bản sao là bản chụp, bản in, bản đánh máy nhưng có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính không phải chứng thực nhưng khi nộp bản sao người yêu cầu công chứng phải nộp bản chính để đối chiếu).

Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình :

- Giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình:

- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Đối với trường hợp thừa kế theo di chúc người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình:

- Bản di chúc.

Đây là các loại giấy tờ được Luật công chứng quy định cần phải có khi đến yêu cầu công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản.

Hiệu lực của văn bản công chứng không chỉ phụ thuộc vào nội dung mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hình thức của văn bản công chứng. Một trong những vấn đề phải chú ý và coi trọng khi dự thảo Văn bản công chứng thoả thuận phân chia di sản cần phải chặt chẽ về nội dung và phải đáp ứng đúng quy định về hình thức của một Văn bản công chứng. Luật công chứng quy định về chữ viết trong văn bản “phải rõ ràng, dễ đọc, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, không được viết xen dòng, viết dè dòng, không được tẩy xoá, không được để trống. Văn bản công chứng có từ hai trang trở lên thì từng trang phải được đánh số thứ tự”. Đây là những vấn đề cần thiết đối với hình thức của một Văn bản thoả thuận phân chia di sản.

Việc ký và điểm chỉ trong văn bản công chứng được quy định đối với người yêu cầu công chứng và người làm chứng là phải ký trước mặt công chứng viên. Việc điểm chỉ được thay thế khi người yêu cầu công chứng, người làm chứng không ký được do khuyết tật hoặc không biết ký.

Khi muốn sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ Văn bản thoả thuận phân chia di sản đã được công chứng thì phải có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia trong Văn bản thoả thuận phân chia di sản và phải được công chứng.

Thời hạn công chứng được quy định không quá 2 ngày làm việc, đối với những trường hợp phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày làm việc. Thời gian xác minh không tính vào thời hạn công chứng.

Trường hợp người yêu cầu công chứng, người làm chứng và người có quyền, lợi ích liên quan phát hiện thấy có căn cứ cho rằng việc công chứng vi phạm pháp luật thì có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Như vậy có thể nói rằng, để phòng ngừa, ngăn chặn những tranh chấp có thể xảy ra trong đời sống xã hội của người dân, Luật công chứng đã có những quy định ngày một hoàn thiện hơn về công chứng Di chúc nói chung, trong đó có quy định về công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản. Thiết nghĩ, người có yêu cầu công chứng cần đến các Phòng công chứng, Văn phòng công chứng để công chứng Văn bản thoả thuận phân chia di sản. Bởi vì, đây là địa chỉ tin cậy cho mọi người dân, cho các tổ chức, cho các cơ quan khi cần công chứng. Các tổ chức hành nghề công chứng có công chứng viên Phòng công chứng và công chứng viên Văn phòng công chứng. Họ là những người phải có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật công chứng mới được bổ nhiệm để hành nghề công chứng, nhà nước giao cho họ thực hiện các việc công chứng. Công chứng viên là người có trình độ, kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật và có kinh nghiệm, có thâm niên trong công tác pháp luật. Giá trị pháp lý của văn bản công chứng do công chứng viên chứng nhận “có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật,” trừ khi các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có những thoả thuận khác. Ngoài ra, Văn bản công chứng do công chứng viên chứng nhận còn ” có giá trị chứng cứ, những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu”. Từ quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng do công chứng viên chứng nhận cho thấy Văn bản thoả thuận phân chia di sản được công chứng viên chứng nhận sẽ bảo đảm về sự an toàn pháp lý và có hiệu lực pháp luật cao.

PHAN THỦY – Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp

SOURCE: CỒNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trang 328 / 328

dau gia daklak

Tìm kiếm

Hỗ trợ trực tuyến

Unavailable for the moment

Video Đại An



Get the Flash Player to see this player.

time2online Joomla Extensions: Simple Video Flash Player Module

Thống kê truy cập

3806794
Hôm nay:Hôm nay:1352
Tháng này:Tháng này:72432
Tất cả:Tất cả:3806794

You are here